Kinh nghiệm tự học IELTS – Luyện thi – C. WRITING

I. TÌM HIU CHUNG

Bài thi Viết của IELTS gồm có 2 phần:

Task 1: thí sinh thường được yêu cầu viết bài báo cáo khoảng 150 từ để mô tả và giải thích các số liệu, dữ liệu trên các biểu đồ, một quá trình, một hiện tượng được biểu diễn dưới dạng hình vẽ.

Task 2: thí sinh thường được yêu cầu viết bài tiểu luận khoảng 250 từ để đưa ra những chính kiến tranh luận hay nhận định về 1 ý kiến hoặc vấn đề. Thí sinh nên đưa ra những tình huống và ví dụ cụ thể để hỗ trợ cho nhận định của mình.

Tổng thời gian cho cả 2 phần là 60 phút, cách phân phối thời gian không bắt buộc. Tuy nhiên thí sinh được khuyên là nên dành 20 phút cho Task 1 và 40 phút cho Task 2 vì Task 2 khó hơn và chiếm nhiều điểm hơn.

Tóm tắt các dạng câu hỏi của 2 task:

Task 1:

  • Miêu tả biểu đồ (graph/chart):
    • Các dạng biểu đồ gồm: biểu đồ đường (line), cột (bar), hình tròn (pie), bảng (table), cột chồng (stacked bar), …
    • Cách ra đề: người ta có thể cho bạn miêu tả chỉ một biểu đồ hoặc kết hợp 2, 3 biểu đồ với nhau, có thể cùng loại hoặc khác loại.
  • Miêu tả một quá trình (process): Cá nhân mình thấy đây là loại khó nhất vì nó không một công thức làm bài cụ thể nào cả và bạn phải tự vận dụng từ vựng để viết. Điểm process khó cao và nhiều người đùa nhau là gặp trúng process thì yên tâm mà … chuẩn bị tiền thi lại. Tuy nhiên tỉ lệ ra trúng process khá thấp, khoảng vài lần/ tổng số kì thi một năm nên như mọi người hay nói là xui lắm mới “dính” 😀

Task 2:

  • To what extent do you agree or disagree?
  • Do you agree or disagree?
  • Is this a positive or negative development/trend?
  • Do the advantages outweigh the disadvantages?
  • Discuss both views and give your opinion.
  • What are the causes?
  • What are the solutions?
  • What are the effects?
  • What are the reasons?
  • Why is this the case?

Đề thi nhiều khi cũng sẽ kết hợp các câu hỏi trên lại với nhau. Ví dụ: To what extent do you agree or disagree? And what are the reasons for this trend?

 II. LUYỆN KĨ NĂNG

Sách: Trước khi bắt tay vào luyện tập thì các bạn nên đọc một vài quyển sách để có một cái nhìn tổng quát về đề thi và cách luyện tập, cách viết bài. Task 1 mình recommend quyển “Visuals Writing about Graphs, Tables and Diagrams” của Gabi Duigu. Task 2 thì chắc cái nào cũng được, na ná nhau hết :/

Task 1: Task này nhiều bạn thấy khó vì bình thường rất ít khi phải viết (ngày xưa học Địa lý cũng có viết mấy đâu) và vì nó yêu cầu phải viết trong một khoảng thời gian ngắn chỉ 20 phút thôi để dành thời gian cho Task 2. Vì vậy bí kíp ở đây là hãy tự tạo công thức càng nhiều càng tốt để khi vào làm bài là áp dụng công thức viết được ngay, không phải suy nghĩ lâu mất thời gian.

* Bài một biểu đồ:

Cấu trúc bài miêu tả biểu đồ thường gồm 3 phần như mọi bài viết khác:

Mở bài: giới thiệu về biểu đồ. Không cần viết quá dài. Chỉ cần 1-3 câu diễn giải lại (paraphrase) đề bài. Lưu ý là các bạn không được viết lại nguyên mẫu đề bài vì những chữ đó sẽ không được tính, dẫn tới việc bài làm dưới 150 chữ yêu cầu và bị trừ điểm nặng. Vậy làm thế nào để nhắc lại đề mà không sử dụng những từ trong đề? Một số cách đơn giản mà hiệu quả là biến đổi “word form” (chuyển đổi qua lại giữa danh từ, động từ, tính từ, phó từ, …) dùng từ thay thế đồng nghĩa.

Ví dụ: Đề bài: “The table below shows the proportion of different categories of families living in poverty in Australia in 1999.”

Screenshot 2014-08-23 18.16.00

 

Mở bài: The table illustrates the percentage of various types of households who were living in poverty in the year 1999.

Changes made:

Show -> illustrate

Proportion -> percentage

Different -> various

Category -> type

Family -> household

In 1999 -> in the year 1999

Yêu cầu ở đây là các bạn phải thuộc Word form và phải thuộc cho chính xác, không được chuyển đổi bừa. Và nghĩa của từ thay thế phải sát với nghĩa của từ ở đề bài.

Thân bài: là lúc bạn bắt đầu đi vào miêu tả chi tiết. Ở bước này quan trọng nhất là các bạn phải nhìn ra được những điểm nổi bật của biểu đồ. Những điểm nổi bật ở đây thường là cái nào nhất, cái nào chót, cái nào khác, cái nào giống với những cái còn lại. Cách này gọi là “nhóm theo số liệu”.

Đầu tiên ở đoạn 1 ta đưa ra cái cao nhất (sole parent 21%), và nói nó gấp bao nhiêu lần so với cái thấp nhất (aged couple 4%) và cái trung bình (all households 11%).

Ở đoạn 2 mình sẽ gộp chung những số liệu gần nhau vào thành từng nhóm. Ở đây nhóm Thấp là single aged person 6% và couple with no children 7%. Nhóm cao là couple with children 12% và single with no children 19%

Một cách khác là “nhóm theo tính chất”. Chúng ta sẽ có nhóm Couple gồm aged couple 4%, couple with no children 7%, couple with children 12%. Nhóm Single gồm single aged person 6%, single with no children 19%, sole parent 21%. Hoặc cũng có thể nhóm theo tính chất “độ tuổi”. Mỗi tính chất làm tách ra thành một đoạn.

Mục đích chính ở đây là chúng ta cần liên kết các số liệu lại với nhau để chỉ rõ những điểm đặc trưng của biểu đồ chứ không phải là đưa ra từng số liệu một mà không có so sánh gì. Các bạn nên dành từ 3-4 phút để nhìn ngắm biểu đồ và lập bố cục cho bài viết của mình.

Khi bắt đầu viết đầu tiên cần chú ý đến thì. Đa số là các số liệu từ các năm trước nên sẽ dùng thì quá khứ đơn. Tuy nhiên cũng có khi là một biểu đồ dự đoán một xu hướng nào đấy trong tương lai. Trường hợp này dùng thì tương lai đơn. Thường sẽ có năm cụ thể nên các bạn cứ nhìn năm là sẽ biết quá khứ hay tương lai. Chú ý không được dùng sai vì sẽ bị trừ điểm nặng.

Ở phần thân bài này Word form càng phát huy tác dụng. Các bạn chú ý dùng những tính từ để miêu tả cho trạng từ (a significant increase, a gradual reduction …), dùng phó từ miêu tả cho động từ (increase significantly, reduce gradually …) và cho tính từ (A is significantly more than B, A is surprisingly lower than B). Từ thay thế cũng hiệu quả không kém, ví dụ figure thay cho number, quantity thay cho amount, reduction thay cho decrease, growth thay cho increase, 3 folds thay cho 3 times, …

Dùng một số từ nối: similarly, by contast, on the other hand, in the same way … để tăng tính liên kết

Dùng nhiều mẫu câu để tránh trùng lặp và nhàm chán.

Kết bài: kết luận sẽ làm cho bài phân tích hay hơn và chứng minh là mình hiểu rõ biểu đồ. Kết luận thường chỉ gồm 1-2 câu chỉ rõ điểm thú vị/ đặc biệt nhất của biểu đồ. Ví dụ với bảng số liệu trên ta có thể rút ra được là: tỉ lệ nghèo cùa những hộ Single > Couple. Hoặc tỉ lệ hộ nghèo của Aged < Younger …

Một số lưu ý khác:

  • Chúng ta chỉ miêu tả và phân tích biểu đồ. Những nhận xét chỉ gói gọn trong những số liệu của biểu đồ. Không được đưa những ý kiến chủ quan của bản thân vào đại loại như: tỉ suất tăng trưởng kinh tế Nhật Bản chậm lại vào năm 2011 có lẽ là do trận động đất sóng thần, Bữa ăn người Việt Nam và Thái Lan có nhiều gạo vì họ là những nước nông nghiệp mạnh về lúa nước …
  • Nhớ tách đoạn rõ ràng. Đừng phân tích từ đầu đến cuối chỉ trong một đoạn. Như vậy sẽ rất rối rắm.
  • Đối với những biểu đồ gồm nhiều số liệu, đừng cố gắng miêu tả từng con số một. Chỉ nên chọn những thông tin quan trọng để mô tả hay so sánh thật tốt.
  • Hãy so sánh ngay lúc nào có thể

* Bài hai, ba biểu đồ: thường là 2, thỉnh thoảng là 3 và chưa từng gặp 4 😀

Cách viết tương tự như bài một biểu đồ. Tuy nhiên có hơi khác chút về cấu trúc.

Mở bài: Giới thiệu cả hai biểu đồ.

Thân bài: Có thể miêu tả xen kẽ từng điểm của biểu đồ này với từng điểm của biểu đồ kia (point to point). Cách này hơi rối, đòi hỏi bạn phải hiểu rõ và nắm chắc các biểu đồ. Cách nữa là miêu tả hết biểu đồ này rồi đến biểu đồ kia (block by block). Cách này thì đơn giản hơn. Tuy nhiên nhớ so sánh, liên hệ các biểu đồ với nhau ngay lúc nào có thể để tránh rời rạc.

Kết bài: nhận xét đặc trưng của hai biểu đồ và nói về sự liên quan của hai biểu đồ với nhau.